Ngày 6/1/1946 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một dấu mốc thiêng liêng của nền dân chủ cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam: từ Bắc vào Nam, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo hay thành phần xã hội, được trực tiếp cầm lá phiếu lựa chọn những đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất: Quốc hội. Đó không chỉ là một cuộc bầu cử, mà là ngày hội lớn của non sông, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “một ngày vui sướng của đồng bào ta… ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình...”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đến bầu cử tại nhà số 10, phố Hàng Vôi, Hà Nội. (Ảnh tư liệu)
Ngày 6/1/1946, dấu mốc mở đầu nền dân chủ cộng hòa
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 diễn ra trong bối cảnh đất nước vô cùng gian khó. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, chính quyền còn non trẻ, nền kinh tế kiệt quệ, hơn 90% dân số mù chữ, thù trong giặc ngoài bủa vây. Tuy nhiên, thay vì lựa chọn con đường cai trị bằng mệnh lệnh hay áp đặt, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đặt trọn niềm tin vào Nhân dân.
Chỉ trong một thời gian ngắn, năm sắc lệnh quan trọng về Tổng tuyển cử được ban hành, xác lập chế độ phổ thông đầu phiếu với các nguyên tắc tự do, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đi bỏ phiếu vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân”, khẳng định rõ tư tưởng “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước.
Không khí Tổng tuyển cử lan tỏa khắp mọi miền đất nước từ nhiều ngày trước. Nhân dân hăng hái học chữ quốc ngữ với khát vọng giản dị mà thiêng liêng: biết chữ để tự tay viết lá phiếu đầu tiên trong đời. Danh sách cử tri và ứng cử viên được niêm yết công khai, quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận để lựa chọn những người xứng đáng.
Đến ngày bầu cử, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, nhân dân nô nức đi bỏ phiếu. Có những cụ già 70, 80 tuổi được con cháu cõng đến điểm bầu cử; người mù được dẫn tới tận hòm phiếu để tự tay thực hiện quyền công dân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng xúc động hồi tưởng: “Thành thị, xóm thôn, đâu đâu cũng rực rỡ cờ, đèn và hoa”.
Bất chấp sự phá hoại điên cuồng của các thế lực thù địch, đặc biệt ở Nam Bộ và một số địa phương phía Bắc, cuộc Tổng tuyển cử vẫn diễn ra rộng khắp. Khoảng 89% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu, bầu ra 333 đại biểu Quốc hội khóa I – một con số đặc biệt ấn tượng trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập.
Quốc hội khóa I nhanh chóng khẳng định vai trò lịch sử của mình. Ngày 2/3/1946, Quốc hội họp kỳ đầu tiên, thông qua nhiều quyết sách hệ trọng, trong đó có Hiến pháp năm 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt nền móng cho Nhà nước dân chủ Việt Nam.
Từ đó, Quốc hội Việt Nam từng bước trở thành trung tâm quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí và khát vọng của Nhân dân, đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, thống nhất và phát triển đất nước.
Quốc hội trong hành trình đổi mới, hội nhập và phát triển
Trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo, Quốc hội luôn gắn bó chặt chẽ với vận mệnh dân tộc. Từ những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thời kỳ đất nước thống nhất, Quốc hội đã đưa ra nhiều quyết định có ý nghĩa lịch sử, đặc biệt là Quốc hội khóa VI (1976–1981) với việc: xác lập tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, Thủ đô Hà Nội, đổi tên Thành phố Hồ Chí Minh và thông qua Hiến pháp năm 1980.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Quốc hội tiếp tục hoàn thiện vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đánh dấu bước phát triển quan trọng của tư duy lập hiến, mở rộng dân chủ, đề cao quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế.
Những năm gần đây, Quốc hội không ngừng đổi mới phương thức hoạt động theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và minh bạch. Việc tăng cường chất vấn, giám sát, lấy phiếu tín nhiệm, ứng dụng công nghệ thông tin và tổ chức các kỳ họp linh hoạt:– kể cả trong bối cảnh đại dịch Covid-19, thể hiện rõ tinh thần đổi mới, vì lợi ích thiết thực của Nhân dân.
Quốc hội khóa XV (2021–2026) được bầu với tỷ lệ cử tri tham gia cao kỷ lục 99,6%, tiếp tục triển khai tư duy “lập pháp chủ động”, kịp thời quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
Kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên, nhìn lại chặng đường đã qua, có thể khẳng định: sự trưởng thành của Quốc hội Việt Nam là quá trình kế thừa liên tục tinh thần của ngày 6/1/1946: tinh thần Nhân dân làm chủ. Chính tinh thần ấy đã trở thành cội nguồn sức mạnh để Quốc hội luôn đồng hành cùng dân tộc, vượt qua mọi thử thách.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc, Quốc hội Việt Nam tiếp tục sứ mệnh cao cả: là trung tâm của trí tuệ dân tộc, là trụ cột của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là hiện thân của ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. Giữ vững tinh thần “đi bỏ phiếu hưởng dụng quyền dân chủ” của mùa xuân năm 1946 chính là cách thiết thực nhất để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước trên con đường phát triển bền vững và hội nhập tự tin.