Lê Quý Đôn và khát vọng kiến tạo quốc gia tri thức trong kỷ nguyên số
Thứ ba - 28/07/2026 15:06
Bài 2: Báo chí, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trên hành trình kiến tạo nền tri thức Việt Nam
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và truyền thông trên phạm vi toàn cầu. Dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên chiến lược; trí tuệ nhân tạo (AI) trở thành công cụ tạo ra năng suất mới; không gian số trở thành môi trường phát triển mới của xã hội. Trong bối cảnh đó, báo chí cách mạng Việt Nam đứng trước một yêu cầu chưa từng có: Vừa làm chủ công nghệ, vừa giữ vững bản chất cách mạng, tính nhân văn và sứ mệnh phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Hành trình ấy không chỉ là câu chuyện đổi mới công nghệ làm báo mà còn là quá trình kiến tạo một nền tri thức quốc gia, tiếp nối tinh thần "thực học để phụng sự đất nước" mà Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn đã khởi dựng từ gần 3 thế kỷ trước.
Khi dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược của báo chí
Lịch sử phát triển của báo chí luôn gắn liền với sự phát triển của công nghệ truyền thông. Từ báo in đến phát thanh, truyền hình, báo điện tử, mạng xã hội và nay là trí tuệ nhân tạo, mỗi bước tiến công nghệ đều làm thay đổi phương thức sản xuất tin tức, cách thức tiếp cận công chúng và mô hình hoạt động của các cơ quan báo chí. Tuy nhiên, chưa có giai đoạn nào sự thay đổi lại diễn ra sâu sắc và toàn diện như hiện nay, khi AI và dữ liệu lớn đang tái định hình toàn bộ hệ sinh thái truyền thông toàn cầu.
Nếu trước đây, nguồn lực quan trọng nhất của một tòa soạn là đội ngũ phóng viên, hệ thống cộng tác viên và mạng lưới phát hành thì ngày nay, bên cạnh những yếu tố truyền thống ấy, dữ liệu đang trở thành tài sản chiến lược. Dữ liệu về đời sống xã hội, dữ liệu quản trị quốc gia, dữ liệu kinh tế, dữ liệu môi trường, dữ liệu hành vi công chúng và kho tư liệu số của chính các cơ quan báo chí đang tạo nên nguồn nguyên liệu mới cho hoạt động báo chí hiện đại.
Điều đó cho thấy, báo chí không còn chỉ là nơi truyền tải thông tin, mà đang từng bước trở thành một trung tâm thu thập, xử lý, phân tích và kiến tạo tri thức xã hội. Giá trị của một tác phẩm báo chí không chỉ được đo bằng tốc độ đưa tin mà còn được quyết định bởi khả năng khai thác dữ liệu, phát hiện vấn đề, lý giải bản chất hiện tượng và cung cấp những thông tin có giá trị dự báo, định hướng nhận thức và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Đây cũng chính là điểm gặp gỡ giữa báo chí hiện đại với phương pháp nghiên cứu của Lê Quý Đôn. Gần 3 thế kỷ trước, ông đã không bằng lòng với những điều nghe kể hay những tư liệu có sẵn. Ông đi thực địa, khảo sát, kiểm chứng, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu trước khi đưa ra nhận định. Ngày nay, phóng viên dữ liệu (data journalist) cũng bắt đầu từ những nguyên tắc ấy: Thu thập dữ liệu, xác minh nguồn tin, phân tích bằng các công cụ số và chuyển hóa dữ liệu thành những câu chuyện báo chí có giá trị đối với xã hội. Sự tương đồng đó cho thấy một chân lý không thay đổi: Công nghệ có thể thay đổi, nhưng nền tảng của báo chí chân chính vẫn là tôn trọng sự thật, lấy bằng chứng làm cơ sở và lấy lợi ích của đất nước, của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất.
Ảnh minh họa.
Trong nhiều năm qua, báo chí thế giới đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của báo chí dữ liệu (Data Journalism). Những cơ quan báo chí lớn như The New York Times, The Washington Post, Reuters, BBC, The Guardian hay Nikkei đều xây dựng các trung tâm dữ liệu chuyên biệt, kết hợp giữa nhà báo, chuyên gia thống kê, lập trình viên và chuyên gia trực quan hóa để tạo ra những tác phẩm có chiều sâu, có khả năng phân tích và dự báo các xu hướng phát triển kinh tế, xã hội. Không ít cuộc điều tra báo chí quốc tế được khởi nguồn từ việc khai thác dữ liệu mở, dữ liệu vệ tinh hoặc hàng triệu tài liệu số hóa, thay vì chỉ dựa vào nguồn tin truyền thống. Xu hướng ấy cũng đang hình thành tại Việt Nam. Nhiều cơ quan báo chí đã xây dựng tòa soạn hội tụ, phát triển kho dữ liệu số, ứng dụng đồ họa tương tác, bản đồ số, phân tích dữ liệu và các công cụ AI trong quy trình sản xuất tin, bài. Việc khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu hành chính, dữ liệu kinh tế - xã hội và dữ liệu mở từng bước giúp báo chí nâng cao chất lượng thông tin, tăng tính thuyết phục của các tác phẩm điều tra, phân tích và phản biện chính sách. Điều quan trọng hơn, dữ liệu không chỉ giúp báo chí phản ánh hiện thực mà còn góp phần phát hiện những xu hướng mới, nhận diện các nguy cơ tiềm ẩn và kiến nghị các giải pháp phát triển. Chính ở phương diện này, báo chí ngày càng thể hiện rõ vai trò là một thiết chế tri thức của xã hội, tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng nền quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và bằng chứng.
Đó cũng là tinh thần xuyên suốt trong các chủ trương lớn của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực đột phá để phát triển nhanh và bền vững; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng dữ liệu, xây dựng hệ sinh thái số, hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo và phát huy vai trò của tri thức trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với báo chí, điều đó không chỉ mở ra cơ hội đổi mới phương thức hoạt động mà còn đặt ra trách nhiệm phải trở thành lực lượng tiên phong trong phổ biến tri thức, lan tỏa đổi mới sáng tạo và xây dựng xã hội số.
Bởi vậy, có thể nói rằng dữ liệu đối với báo chí hôm nay cũng giống như thư tịch, khảo cứu và thực địa đối với Lê Quý Đôn ngày trước. Đó đều là điểm khởi đầu của quá trình tìm kiếm sự thật. Khác biệt chỉ nằm ở công cụ; còn bản chất của lao động báo chí và lao động khoa học vẫn thống nhất ở một yêu cầu: Mọi kết luận đều phải được xây dựng trên nền tảng dữ liệu xác thực, tư duy độc lập và trách nhiệm xã hội.
Kiến tạo nền tri thức Việt Nam trong kỷ nguyên số
Lịch sử luôn vận động bằng những bước chuyển lớn của thời đại. Có thời đại được dẫn dắt bởi sức mạnh của đất đai, tài nguyên và lãnh thổ; có thời đại được quyết định bởi vốn, thị trường và năng lực sản xuất. Nhưng bước sang thế kỷ XXI, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, dữ liệu, tri thức và đổi mới sáng tạo đã trở thành những nguồn lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.
Nhận thức rõ xu thế đó, Đảng ta đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực đột phá của quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan của tiến trình hội nhập, mà còn là con đường để nâng cao năng suất lao động, đổi mới mô hình tăng trưởng, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao vị thế quốc gia. Cùng với đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng xã hội học tập, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành đội ngũ công dân có năng lực số, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng học tập suốt đời. Ở tầm nhìn chiến lược ấy, có thể thấy tư tưởng của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn vẫn mang giá trị dẫn đường. Điều ông gửi lại cho hậu thế không chỉ là một khối lượng trước tác đồ sộ, mà còn là một triết lý phát triển: Quốc gia muốn hưng thịnh phải coi trọng tri thức; người trí thức phải lấy phụng sự Tổ quốc và Nhân dân làm mục tiêu; việc học phải gắn với thực tiễn; nghiên cứu khoa học phải hướng tới giải quyết những vấn đề của cuộc sống.
Chuỗi 16 hoạt động kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.
Chính vì vậy, việc UNESCO cùng Việt Nam kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ là sự tôn vinh một học giả lớn của dân tộc, mà còn là sự khẳng định những giá trị phổ quát của tư duy khoa học, của tinh thần khai mở tri thức và của khát vọng phát triển bằng trí tuệ con người. Đó cũng là lời nhắc nhở rằng, trong bất cứ thời đại nào, sự trường tồn của một dân tộc luôn gắn liền với năng lực sáng tạo, tiếp thu và làm giàu tri thức.
Đối với báo chí cách mạng Việt Nam, yêu cầu ấy càng trở nên cấp thiết. Chưa bao giờ người làm báo có trong tay nhiều công cụ hiện đại như hôm nay; nhưng cũng chưa bao giờ phải đối mặt với những thách thức lớn như sự bùng nổ thông tin xuyên biên giới, tin giả, thao túng dữ liệu, nội dung do AI tạo sinh thiếu kiểm chứng, cạnh tranh khốc liệt về tốc độ lan truyền và sự phân mảnh của công chúng. Trong bối cảnh đó, lợi thế lớn nhất của báo chí không nằm ở khả năng phát hành nhanh hơn mạng xã hội hay sản xuất nội dung nhiều hơn các nền tảng số, mà ở năng lực bảo vệ sự thật, gìn giữ chuẩn mực nghề nghiệp, cung cấp thông tin đã được kiểm chứng và tạo lập niềm tin xã hội. Đó cũng chính là yêu cầu xây dựng nền báo chí cách mạng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại mà Đảng đã xác định. Chuyên nghiệp không chỉ ở quy trình tác nghiệp, ở công nghệ hay mô hình tòa soạn hội tụ, mà còn ở năng lực làm chủ dữ liệu, làm chủ AI, làm chủ các nền tảng số và làm chủ quy trình sáng tạo nội dung. Nhân văn là luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi sản phẩm báo chí, bảo vệ quyền con người, tôn trọng sự thật, lan tỏa những giá trị tốt đẹp, nuôi dưỡng khát vọng phát triển và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hiện đại không chỉ là sở hữu công nghệ tiên tiến, mà còn là khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi của môi trường truyền thông số, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản trị tòa soạn và phương thức tiếp cận công chúng.
Trong hành trình ấy, AI phải được nhìn nhận đúng với vai trò của mình: Là công cụ hỗ trợ để gia tăng năng suất lao động, mở rộng năng lực phân tích dữ liệu, nâng cao chất lượng sản xuất nội dung và tối ưu hóa hoạt động của tòa soạn. Nhưng AI không thể thay thế bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội, tư duy phản biện, chiều sâu văn hóa và đạo đức nghề nghiệp của người làm báo. Những yếu tố ấy chỉ có thể được hình thành từ quá trình rèn luyện, từ trải nghiệm thực tiễn và từ sự trung thành với lý tưởng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
3 thế kỷ trước, Lê Quý Đôn đã dành cả cuộc đời để đọc sách, khảo cứu, ghi chép và hệ thống hóa tri thức với khát vọng làm cho đất nước hưng thịnh. 3 thế kỷ sau, khát vọng ấy đang được tiếp nối bằng những phương thức hoàn toàn mới: Xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số toàn diện và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trên hành trình đó, báo chí cách mạng không chỉ phản ánh tiến trình phát triển mà còn trực tiếp tham gia kiến tạo hệ sinh thái tri thức, lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo, kết nối ý Đảng với lòng dân và cổ vũ khát vọng vươn lên của dân tộc.
Bộ "Vân đài loại ngữ", bản dịch in năm 1972
Có thể nói, từ những trang "Vân đài loại ngữ", "Kiến văn tiểu lục", "Phủ biên tạp lục" được viết bằng bút lông trên giấy dó đến những cơ sở dữ liệu số, các nền tảng trí tuệ nhân tạo và tòa soạn hội tụ của thế kỷ XXI là khoảng cách gần 300 năm về thời gian và vô vàn đổi thay về công nghệ. Nhưng sợi chỉ đỏ xuyên suốt vẫn không hề thay đổi: Đó là khát vọng khám phá tri thức để phụng sự quốc gia.
Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn vì thế không chỉ là sự tri ân đối với một bậc hiền tài của dân tộc. Quan trọng hơn, đó là dịp để khẳng định một chân lý có giá trị bền vững: Một quốc gia chỉ có thể phát triển hùng cường khi lấy tri thức làm nền tảng, khoa học và công nghệ làm động lực, đổi mới sáng tạo làm sức mạnh, chuyển đổi số làm phương thức phát triển và con người làm trung tâm của mọi chiến lược.
Với báo chí cách mạng Việt Nam, tiếp nối tư tưởng của Lê Quý Đôn trong kỷ nguyên số không chỉ là học ở ông tinh thần hiếu học, phương pháp khảo cứu nghiêm cẩn hay ý thức phụng sự đất nước. Điều quan trọng hơn là phải tiếp tục nuôi dưỡng khát vọng kiến tạo một nền tri thức Việt Nam hiện đại, trung thực, khai mở và giàu bản sắc; xây dựng đội ngũ người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, năng lực số toàn diện và tư duy đổi mới sáng tạo; để mỗi tác phẩm báo chí không chỉ phản ánh hiện thực, mà còn góp phần tạo dựng niềm tin, truyền cảm hứng cống hiến và mở rộng không gian phát triển của dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình. Đó chính là cách thiết thực nhất để ngọn đuốc tri thức mà Lê Quý Đôn đã thắp lên từ gần 3 thế kỷ trước tiếp tục soi sáng con đường phát triển của Việt Nam hôm nay và mai sau.