Từ bản "Tuyên ngôn độc lập" nhớ tới lời dạy của Bác Hồ
Thứ sáu - 13/02/2026 10:46
Nhân kỷ niệm 80 năm (6/1/1946 – 6/1/2026) Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bầu ra Quốc hội khóa I, tôi nhớ tới bài nói chuyện của Bác Hồ tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam (8/9/1962). Khi ấy, Người chia sẻ: “Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc”.

Bản “Tuyên ngôn độc lập” là minh chứng hùng hồn cho phương châm viết và nói ấy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, đồng thời là bài học vô cùng quý báu đối với mỗi người cầm bút.
“Tuyên ngôn độc lập” ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: Nhân dân ta vừa tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa, lập nên một nước Việt Nam mới; trong khi đó, bọn đế quốc, thực dân lại ráo riết âm mưu quay trở lại xâm lược. Vì thế, bản Tuyên ngôn không chỉ tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới về chủ quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, mà còn mang ý nghĩa như một lời cảnh báo đanh thép, ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của các thế lực ngoại bang.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi, đại biểu tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, từng kể lại, trước khi về xuôi lãnh đạo Tổng khởi nghĩa, các đại biểu đã được nghe Cụ Hồ phân tích tình hình: Quân đội Anh và Trung Hoa Dân quốc (của Tưởng Giới Thạch) sẽ vào Việt Nam tước khí giới quân Nhật; thực dân Pháp, lợi dụng danh nghĩa nước thắng trận trong phe Đồng minh, chắc chắn sẽ tìm cách quay lại xâm lược nước ta. Việt Nam có nguy cơ bị xâu xé trong tình thế vô cùng phức tạp ấy.
Như vậy, ngay từ trước khi đặt bút, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ đối tượng của bản “Tuyên ngôn độc lập”: Một bên là đồng bào ta và Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới; Một bên là bọn đế quốc, thực dân xảo trá đang nuôi mộng xâm lăng. Việc xác định đúng mục đích và đối tượng đã dẫn tới một cách viết hùng hồn, sắc sảo, với bút lực vô song của vị lãnh tụ cách mạng.
Sau phần mở đầu nêu cơ sở pháp lý bằng cách dẫn lại những tư tưởng bất hủ trong “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của nước Mỹ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp, phần lớn nội dung còn lại Người dành để nói với đồng bào trong nước. Ngôn ngữ được sử dụng gần gũi, đời thường, gắn với cách cảm, cách nghĩ của đại chúng, toát lên sự sẻ chia, đồng cảm sâu sắc giữa lãnh tụ và Nhân dân.
Từ lời hô gọi mở đầu đầy thân thiết: “Hỡi đồng bào cả nước!” đến cách dùng những đại từ trìu mến như nhân dân ta, dân tộc ta, nòi giống ta, đồng bào ta, các nhà tư sản ta…, tất cả tạo nên sức cảm hóa mạnh mẽ, quy tụ đông đảo các tầng lớp Nhân dân.
Đối lập với “ta” là “chúng”: Bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật, được gọi bằng giọng điệu khinh miệt. Ngòi bút của Người lột tả đầy đủ bản chất tàn bạo, dã man của chế độ cai trị ngoại bang bằng những dẫn chứng xác thực. Trong từng câu chữ dường như kết tinh bao uất hận bị dồn nén qua nhiều năm tháng, nay được Người thay mặt toàn dân cất lên. Chính vì đó là tiếng nói chung của hàng triệu đồng bào, nên “Tuyên ngôn độc lập” có sức lay động và cảm hóa lớn lao.
Với đối tượng là âm mưu quay trở lại xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, từ giữa bản Tuyên ngôn trở đi, lập luận mang dáng dấp của một văn bản pháp lý chặt chẽ, không thể chối cãi, buộc các nước Đồng minh phải thừa nhận rằng “không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”.
Bằng lý lẽ sắc bén và chứng cứ cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Về cả tình lẫn lý, thực dân Pháp đều không đủ tư cách “ở lại” trên đất nước ta. Chúng đã hèn nhát đầu hàng Nhật, bán nước ta hai lần; trong khi đó, “dân ta đã lấy lại nước ta từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”, giống như các dân tộc Đồng minh giành lại đất nước từ tay phát xít. Lập luận ấy giản dị mà thuyết phục, dẫn tới lời tuyên bố đanh thép, chặn đứng mọi âm mưu xảo trá: “Bởi thế cho nên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp…”.
Khi hướng tới đồng bào và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, ngôn từ của Bác giản dị, chân thành và thống thiết. Khi đối diện kẻ thù, lời văn trở nên sắc lạnh, đanh thép như dao chém đá. Mục đích và đối tượng rõ ràng đã quyết định nội dung và hình thức diễn đạt, khiến “Tuyên ngôn độc lập” trở thành áng văn bất hủ, hàm chứa những giá trị to lớn về tư tưởng, chính trị và nghệ thuật.
Cùng với “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn và “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là một “thiên cổ hùng văn”, ghi dấu son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Nguyên Tản