Học tập tinh thần hiếu học của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn

Thứ hai - 23/02/2026 10:34
(Nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh – Năm Bính Ngọ 2026)
Năm Bính Ngọ 2026 đánh dấu tròn 300 năm ngày sinh của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 2026) – một trong những danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời, sự nghiệp và di sản đồ sộ của ông không chỉ kết tinh trí tuệ Đại Việt thế kỷ XVIII mà còn để lại những giá trị bền vững về tinh thần hiếu học, tư duy khoa học, lòng yêu nước và trách nhiệm với nhân dân. Việc UNESCO thông qua Nghị quyết cùng Việt Nam kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông tiếp tục khẳng định tầm vóc quốc tế của một danh nhân văn hóa lớn, đồng thời đặt ra trách nhiệm gìn giữ, phát huy các giá trị ấy trong đời sống đương đại.

Lê Quý Đôn sinh ngày 5 tháng 7 năm Bảo Thái thứ 7 đời vua Lê Dụ Tông (tức ngày 2/8/1726) tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ (nay là thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng danh giá: cha là Tiến sĩ Lê Trọng Thứ, từng giữ chức Hình bộ Thượng thư; mẹ là con gái Tiến sĩ Trương Minh Lượng. Môi trường gia đình, truyền thống hiếu học cùng tư chất thông minh đặc biệt đã sớm hình thành ở Lê Quý Đôn một con đường học vấn khác thường.
tuong dai le quy don
Tượng đài Lê Quý Đôn tại Khu lưu niệm.

Ngay từ thuở nhỏ, ông đã nổi tiếng là “thần đồng xứ Sơn Nam”. Năm 5 tuổi, Lê Quý Đôn đọc được nhiều bài trong Kinh Thi; 12 tuổi học thuộc kinh, truyện, sử sách và các trước tác của Bách gia chư tử; 14 tuổi tinh thông Ngũ kinh, Tứ thư. Sử gia Phan Huy Chú ghi nhận ông là người “học rộng, nhớ dai”, có khả năng tư duy mạch lạc, văn chương hùng biện, một ngày có thể làm nhiều bài phú không cần viết nháp. Chính nền tảng tri thức vững chắc và tinh thần tự học bền bỉ đã tạo nên tầm vóc học giả hiếm có trong lịch sử Việt Nam.

Con đường khoa cử của Lê Quý Đôn là minh chứng tiêu biểu cho trí tuệ và bản lĩnh học thuật. Năm 17 tuổi, ông đỗ Giải Nguyên kỳ thi Hương tại trấn Sơn Nam; năm 26 tuổi tiếp tục đỗ đầu kỳ thi Hội (Hội Nguyên) và thi Đình, được phong danh hiệu Bảng Nhãn – danh hiệu cao quý nhất về học thuật trong bối cảnh triều Lê không lấy Trạng nguyên. Việc đứng đầu cả ba kỳ thi lớn đã đưa tên tuổi Lê Quý Đôn trở thành biểu tượng của tinh thần hiếu học và khoa bảng Đại Việt.

Nhà bác học lớn và vị quan vì dân, vì nước

Bước vào con đường quan trường từ năm 1753, Lê Quý Đôn đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng tại Viện Hàn lâm, Quốc sử quán, Quốc Tử Giám, triều đình vua Lê và phủ chúa Trịnh. Trên hành trình làm quan kéo dài hơn 30 năm, ông nhiều lần thăng giáng, đảm nhận những vị trí khác nhau trong các lĩnh vực văn, võ, kinh tế, giáo dục và quản lý xã hội. Dù ở cương vị nào, Lê Quý Đôn cũng thể hiện rõ phẩm chất của một trí thức lớn: uyên bác, cương trực, thanh liêm và luôn trăn trở trước vận mệnh quốc gia, đời sống nhân dân.

Ông nhiều lần dâng sớ điều trần, kiến nghị chấn chỉnh pháp chế, cải cách bộ máy quan lại, chống tham ô, nhũng nhiễu, giảm sưu thuế, khoan sức dân. Không ít đề xuất của ông chưa được chấp thuận do bối cảnh chính trị phức tạp, song nhiều kiến nghị đã được triều đình tiếp thu và thi hành, mang lại hiệu quả thiết thực, đặc biệt trong việc cứu đói, ổn định sản xuất nông nghiệp, giảm gánh nặng thuế khóa cho nhân dân ở những thời kỳ khó khăn.

Trong chuyến đi sứ sang nhà Thanh (1760–1762) với vai trò Phó sứ thứ nhất, Lê Quý Đôn để lại dấu ấn sâu sắc về bản lĩnh ngoại giao và học thuật. Ông không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bang giao mà còn tích cực tham gia các cuộc bút đàm, giao lưu học thuật với học giả Trung Quốc, Cao Ly và Lưu Cầu. Đặc biệt, trước cách xưng hô miệt thị “di quan” đối với sứ thần Đại Việt, ông đã kiên quyết biện bác, yêu cầu thay đổi cách gọi trong công văn ngoại giao, qua đó khẳng định tư thế một quốc gia có nền văn hiến lâu đời. Thành công này góp phần nâng cao vị thế Đại Việt trên trường quốc tế đương thời.

Di sản tri thức và giá trị bền vững cho hôm nay

Lê Quý Đôn được các nhà nghiên cứu đánh giá là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam dưới thời phong kiến. Di sản học thuật đồ sộ của ông trải rộng trên nhiều lĩnh vực: triết học, sử học, văn học, địa lý, kinh tế, nông nghiệp, thiên văn, lịch pháp và văn hóa dân gian. Những tác phẩm tiêu biểu như Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, Toàn Việt thi lục, Quần thư khảo biện, Bắc sứ thông lục… không chỉ phản ánh trình độ tri thức uyên bác mà còn là nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam.

Điều đặc biệt ở Lê Quý Đôn là tư duy khoa học mở và tinh thần tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại. Ông sớm biết đến những hiểu biết mới của phương Tây về vũ trụ, trái đất, lịch pháp; ghi chép và phân tích các hiện tượng thiên văn như nhật thực, nguyệt thực; vận dụng tri thức vào việc dự báo thời tiết, phục vụ nông nghiệp và quân sự. Trong lĩnh vực nông nghiệp, ông hệ thống hóa kỹ thuật canh tác, chọn giống, thời vụ, nhấn mạnh vai trò của thủy lợi, góp phần nâng cao năng suất và đời sống nông dân. Không dừng lại ở khoa học tự nhiên, Lê Quý Đôn còn đặc biệt quan tâm đến phong tục, tập quán, đời sống văn hóa của các vùng miền, coi đó là nền tảng để củng cố bản sắc và sức mạnh cộng đồng.

Cuộc đời hơn 40 năm miệt mài trước tác và hành trình làm quan nhiều biến động của Lê Quý Đôn là biểu tượng sinh động của tinh thần hiếu học, khát vọng tri thức và trách nhiệm xã hội của trí thức Việt Nam. Dù ở hoàn cảnh nào, ông vẫn kiên trì học tập, nghiên cứu và cống hiến cho đất nước. Chính điều đó làm nên giá trị vượt thời gian của một danh nhân văn hóa lớn.

Việc UNESCO thông qua Nghị quyết cùng Việt Nam kỷ niệm 300 năm ngày sinh Lê Quý Đôn không chỉ là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp khoa học, giáo dục và văn hóa của ông, mà còn là cơ hội để quảng bá lịch sử, văn hiến Việt Nam ra thế giới. Đối với tỉnh Hưng Yên – quê hương của danh nhân, đây là niềm vinh dự lớn lao, đồng thời là trách nhiệm trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản, giáo dục truyền thống hiếu học cho thế hệ trẻ.

Kỷ niệm 300 năm ngày sinh Lê Quý Đôn không chỉ là dịp tưởng nhớ một bậc hiền tài, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về ý nghĩa của việc học, của trí tuệ và đạo đức trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Học tập tinh thần hiếu học của Lê Quý Đôn hôm nay chính là nuôi dưỡng khát vọng tri thức, đổi mới sáng tạo và cống hiến không ngừng vì sự phát triển bền vững của đất nước.


 
Thanh Bình

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây