Những ngày cuối năm, làng rèn An Tiêm (xã Tây Thụy Anh) nhịp búa vang đều. Lò rèn đỏ lửa suốt ngày đêm. Người thợ miệt mài hoàn thiện từng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường giáp Tết, mang theo kỳ vọng về một mùa xuân no ấm của làng nghề.
Làng nghề rèn An Tiêm tất bật ngày cuối năm.
Theo con đường nhỏ dẫn vào làng, âm thanh đầu tiên dễ nhận ra là tiếng máy mài rít đều xen lẫn tiếng búa nện dồn dập từ các xưởng sản xuất. Tại cơ sở rèn Tân Quyên, giữa không gian nóng rực của lò rèn, chị Nguyễn Thị Quyên vừa thoăn thoắt quai búa vừa chia sẻ: Làm nghề rèn trước hết phải có tâm với nghề. Mỗi con dao đều được làm thủ công, trải qua nhiều công đoạn để bảo đảm độ sắc và độ bền. Trung bình mỗi ngày, hai vợ chồng tôi làm được khoảng 30 con dao, chủ yếu tiêu thụ tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Dịp giáp Tết là thời gian bận rộn nhất, đơn hàng tăng mạnh nên tôi thường bắt đầu công việc từ 4 giờ sáng đến tối muộn để kịp giao hàng. Dù vất vả, nhưng với tôi, nghề rèn không chỉ là kế sinh nhai mà còn là trách nhiệm gìn giữ nghề truyền thống của cha ông.
Những năm gần đây, nhiều hộ dân trong thôn mạnh dạn đầu tư máy móc, thiết bị, từng bước hiện đại hóa quy trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Anh Phạm Ngọc Trìu, một trong những người gắn bó lâu năm với nghề rèn, tiên phong theo hướng đi này. Anh cho biết: Năm 2012, tôi mở xưởng sản xuất tại gia đình. Sau thời gian tìm hiểu, năm 2017, tôi quyết định đầu tư gần 700 triệu đồng mua máy cắt CNC. Ưu điểm của máy là tiết kiệm nhân công, mẫu mã đa dạng, kỹ thuật sắc nét. Năng suất của một máy cắt CNC tương đương khoảng 10 lao động cắt thủ công. Hiện nay, cơ sở của tôi có khoảng 30 mẫu dao các loại, sản lượng xuất ra thị trường hơn 3.000 sản phẩm/tháng. Một bộ ba sản phẩm dao có giá 400 nghìn đồng. Đặc biệt, vào dịp Tết Nguyên đán, lượng đơn hàng tăng gần gấp đôi so với ngày thường. Không chỉ mở rộng quy mô sản xuất, cơ sở còn tạo việc làm thường xuyên cho 5 lao động địa phương với thu nhập từ 10 - 12 triệu đồng/người/tháng.
Công đoạn rút mép dao.
Sản phẩm dao của cơ sở sản xuất hộ anh Phạm Ngọc Trìu (thôn An Tiêm, xã Tây Thụy Anh).
Thực tế cho thấy, nghề rèn An Tiêm không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn có vai trò quan trọng trong giải quyết việc làm tại địa phương. Ông Phan Thanh Sông, Trưởng thôn An Tiêm cho biết: Thôn hiện có 30 hộ dân duy trì nghề rèn, trong đó 14 cơ sở ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất. Các cơ sở đã tận dụng mạng xã hội để quảng bá, tiêu thụ sản phẩm. Nhờ đó, nghề rèn không chỉ được giữ gìn mà còn mang lại thu nhập ổn định, tạo việc làm cho hơn 300 lao động địa phương với thu nhập từ 8 - 15 triệu đồng/người/tháng.
Không khí lao động ở làng rèn An Tiêm những ngày cuối năm phản ánh sức sống bền bỉ của nghề truyền thống. Bà Phan Thị Thủy, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Tây Thụy Anh cho biết: Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục quan tâm hỗ trợ các cơ sở sản xuất tiếp cận nguồn vốn, quy hoạch làng nghề, khuyến khích đổi mới công nghệ và xây dựng thương hiệu sản phẩm gắn với làng nghề truyền thống. Xã định hướng phát triển các sản phẩm rèn theo tiêu chuẩn OCOP 4 sao nhằm nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường.
Anh Phạm Ngọc Trìu (đứng giữa), ở thôn An Tiêm, xã Tây Thụy Anh, giới thiệu sản phẩm.
Giữa nhịp sống hiện đại, tiếng búa rèn ở An Tiêm vẫn vang lên đều đặn. Trong ánh lửa đỏ hồng của những lò rèn ngày cuối năm không chỉ có mồ hôi và sự nhọc nhằn, mà còn chứa đựng niềm tin và khát vọng vươn lên của những người thợ làng nghề rèn. Chính sự bền bỉ ấy đã và đang giúp làng nghề rèn An Tiêm giữ “hồn cốt” nghề truyền thống, vững vàng bước tiếp trên hành trình phát triển, đón những mùa xuân mới đủ đầy và ấm áp.