Thơ có ích và vô ích: tại sao?*

Thứ hai - 13/02/2023 16:38

…Thơ trước khi là một thể loại nghệ thuật, nó là một hiện tượng xã hội, văn hóa. Chính vì thế, thơ cần được nhìn nhận trong nghĩa lý tồn tại của nó, với tư cách là động thái nhằm kiến tạo một hình thức biểu đạt sự sống của con người. Điều đó chất vấn lại thái độ phủ nhận ích dụng của thơ.

Nếu không cần thiết, vô nghĩa, thì việc gì con người trên khắp thế giới, từ xa xưa đến giờ, vẫn sáng tạo nên thơ như một phần của văn hóa – xã hội? Đối với người Việt Nam, nhìn vào truyền thống mĩ học thơ ca, ở dòng chảy rộng lớn nhất, chúng ta nhận ra nhu cầu biểu đạt tinh thần một cách kín đáo, tinh tế, giàu hình ảnh, nhịp điệu, nhạc tính (cả trong văn học truyền miệng và văn học viết). Như thế, thơ là sự hiện ra của tâm tính con người với nhu cầu được vỗ về, an ủi, nâng đỡ một cách nhịp nhàng, hài hòa. Một câu ca dao, đôi dòng lục bát, một bài thơ nho nhỏ hay một tác phẩm trữ tình dài hơi, đều là sự hiện hình của nhu cầu biểu đạt trạng thái tinh thần, tình cảm, suy tư của con người trong hành trình sống của mình.

111
Đường thơ thu hút đông đảo công chúng yêu thơ với 100 câu thơ hay của 100 tác giả thơ Việt Nam. Ảnh: Hữu Đố

Đối với người đọc, ích dụng của thơ có lẽ được biểu đạt rõ nhất trong việc đem đến cơ hội thưởng thức những khoái cảm/ mĩ cảm thuộc về tinh thần. Đọc một bài thơ là sống trong thế giới của nhịp điệu cảm xúc, suy tư, thông qua ngôn từ, hình ảnh, thanh âm, giai điệu. Việc đọc thơ gắn với trải nghiệm cá nhân, là quá trình thấm thía chính thế giới bên trong của người đọc, gợi dẫn từ thi phẩm. Không chỉ thế, đọc là cuộc gặp gỡ, đối thoại của con người. Tại thời điểm đó, những giao tiếp diễn ra, giúp chúng ta nhận ra sự hiện hữu của chính mình và người khác. Những ấn tượng, vang hưởng từ bài thơ sẽ đi đến tận cùng tâm hồn, neo đậu lại, tưới tẩm, vun đắp hay bồi dưỡng trí cảm con người. Lúc này, thơ cũng trở thành nguồn năng lượng đồng hành cùng sự sống. Ở một cấp độ khác, những người đọc nghiên cứu, phê bình sẽ có thêm những hướng triển khai khác, khám phá đời sống, văn hóa, xã hội, mĩ học, từ đó nhận ra những chiều kích khác thuộc về ích dụng của thơ. Thơ lúc này được xem như một dữ kiện văn hóa – xã hội – lịch sử, một đối tượng của khoa học.

Xét từ góc độ mĩ học, thơ không phải là khái niệm bất biến. Cách tân chính là động thái thường trực, nhằm đem đến mĩ cảm mới, mĩ học mới cho thơ. Chính vì vậy, ở mỗi không gian văn hóa xã hội, mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, khái niệm thơ sẽ được bổ sung nội hàm, dựa trên nỗ lực làm mới của thi sĩ. Sự bảo thủ, cứng nhắc trong quan niệm về thơ chính là lực cản khiến cho thơ kéo dài mãi một hệ hình mĩ học. Như thế, vô hình trung, chúng ta đang dần triệt tiêu ích dụng của thơ. Đó là một trong những nguyên do khiến công chúng hoài nghi, phân vân, khi họ không tìm thấy ở thơ nguồn sống mới, điệu sống mới, mĩ cảm mới.

Trở lên, những lập luận dường như chiêu tuyết cho thơ. Nhưng, không thể che giấu được rằng, cộng đồng đang có những hoài nghi, băn khoăn, thậm chí là bày tỏ quan điểm về sự vô ích của thơ. Người người làm thơ, nơi nơi đăng thơ, mà thiếu thơ hay, thiếu những thi phẩm thực sự neo bám một cách ám ảnh, bền bỉ trong tâm trí bạn đọc. Từ quan sát và suy tư của bản thân, tôi nghĩ rằng, thơ Việt Nam đang lâm vào một số tình thế sau đây, là căn nguyên của hiện trạng vừa nêu:

Thứ nhất, thơ bị suy về tư tưởng. Tại sao có thể đưa ra nhận định này? Theo dõi nhiều diễn đàn thơ, đọc thơ của nhiều tác giả, điều mà người viết nhận ra chính là sự thiếu vắng tư tưởng nghệ thuật như là yếu tố cốt lõi để tổ chức văn bản nghệ thuật – thi phẩm như một chỉnh thể. Thơ nông cạn và hời hợt (ngay trong dáng vẻ tỏ ra cầu kỳ bí hiểm của nó). Tư tưởng nghệ thuật không phải là thứ dễ dàng có được, lại càng không phải dễ dàng thể hiện thành công dưới một hình thức thể loại nghệ thuật nào đó. Những miêu tả, kể lể rườm rà, những vặn vẹo tháo lắp chữ nghĩa câu cú, nhiều lúc làm tổn hại đến vẻ đẹp sang trọng của tư tưởng nghệ thuật. Một bài thơ, một tập thơ có tư tưởng là khi mọi biểu hiện của nó đều tập trung vào cái lõi duy nhất khiến thi nhân khắc khoải, dằn vặt triền miên và không thể không thốt nên lời. Nó nhanh chóng rời xa những xúc cảm chợt đến, những xôn xao thoáng qua, những suy tư vừa mới nhen lên, những băn khoăn nhức nhói chưa đọng lại thành lệ ngọc. Tôi không hoàn toàn tán thành với quan điểm tư tưởng nghệ thuật là trái quả hái lúc về già, nhưng rõ ràng, đó là sản phẩm của một quá trình cảm – niệm bền bỉ, sâu sắc đến mức khổ ải. Thơ ca đang thiếu đi sự nhẫn nại cần thiết để lắng mình vào trong sự tĩnh lặng của ưu tư. Chính vì thế, việc người ta xem thường thơ cũng không có gì đáng phải biện hộ nữa.

Thứ hai, nhiều người làm thơ nhưng dường như không ai đọc ai, hoặc đọc hời hợt, dễ bỏ qua, thậm chí là dễ dàng phê phán, phủ nhận, xem thường thơ và xem thường lẫn nhau. Căn nguyên này lại có động cơ từ một bối cảnh suy văn hóa thơ. Thế nào là văn hóa thơ? Đó là trạng thái tinh thần của con người và xã hội trong việc ứng xử với quá trình sáng tạo và tiếp nhận giá trị mĩ học của thi ca. Văn hóa thì không có cao thấp, chỉ có khác biệt. Tuy nhiên, sự khác biệt lại có nền tảng từ nhu cầu, thị hiếu và quan niệm giá trị. Xem ra, trong cái khác đã hàm chứa cái cao thấp mà để giữ lấy hòa khí người ta không tiện nói ra. Đến giờ, những ai còn say sưa đắm đuối với những vỗ về, chải chuốt của tinh thần lãng mạn trong Thơ Mới, rất có thể bị xem là đang vận hoạt trong một trường văn hóa thơ tương đối thấp. Người có nền tảng văn hóa thơ cao là người bước ra khỏi vòng tỏa bóng của Thơ Mới, xác lập một dạng thức mĩ cảm khác, phù hợp hơn với tinh thần đương đại. Ở tầm mức rộng hơn, văn hóa thơ đòi hỏi một tinh thần thi sĩ như là kẻ đồng hành sánh ngang với triết gia trong việc canh giữ ngôi đền ngôn ngữ - hiện thân của thế giới, nhân loại. Tương tự như vậy, ở phía người đọc và các thiết chế, lựa chọn, cổ súy hay bài bác phủ nhận một loại hình thơ ca nào đó cũng cần một thái độ văn hóa xứng đáng với vị trí tượng trưng rất cao của thơ. Vậy thì, làm sao có thể tùy tiện, dễ dãi hoặc xem thường thi ca được?

Thứ ba, nhiều người làm thơ, mượn thơ như một hình thức bày tỏ cái tôi cá nhân riêng biệt của mình, bất kể nó có chạm gặp hay giao tiếp được với cộng đồng hay không, điều đó nói lên sự suy thoái của tính cộng đồng và các giá trị phổ quát trong lòng xã hội đương đại. Nói cách khác, thi nhân của chúng ta ít có những mối bận tâm lớn, những khắc khoải triền miên về các vấn đề cốt lõi của tồn tại người. Những biện hộ dựa trên nhu cầu biểu tỏ cái tôi riêng biệt, sâu kín không làm thỏa mãn chúng ta về một hệ giá trị có thể đánh động con người nói chung trước vận mệnh của chính mình. Điều đó làm cho thơ trở nên xa lạ, trong khi lẽ ra nó phải khiến con người nhận ra non cao vực thẳm của lòng mình trong nhịp điệu tâm hồn kẻ khác. Chẳng phải như vậy là thơ đã tự rời bỏ mảnh đất mà mình sinh ra cùng khát vọng nhân văn vĩnh hằng mà loài người luôn ước mơ, tìm kiếm hay sao?

Thứ tư, sự lên ngôi của các hệ giá trị đại chúng đã lôi cuốn, cho phép hoặc vô tình dung dưỡng những thực hành thơ có phần dễ dãi, thậm chí tùy tiện với lý do lắm khi là “ngụy biện” về tinh thần dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật. Trong một tiểu luận trước đây, tôi đã nhấn mạnh đến ba trụ cột để hình thành nên bản sắc chủ thể thi sĩ trong sáng tạo thi ca. Đó là: luân lý tự thân – luân lý xã hội – luân lý mĩ học. Nghĩa là, một thi sĩ, khi sáng tác, cần ý thức trách nhiệm của mình trong việc kiến tạo chính mình, kiến tạo giá trị mĩ học và đóng góp vào giá trị văn hóa – lịch sử - xã hội bằng chính giá trị nghệ thuật mà mình tạo ra. Nó không chỉ là cuộc chơi, cũng không đơn thuần là cá nhân – bản thể, cũng không dừng lại ở việc cảm xúc thăng hoa hay suy tư chợt đến. Sự chiều chuộng theo thị hiếu dễ dãi của đại chúng thực sự là “kẻ thù” của thơ. Và như thế, chúng ta đang phản bội lại thơ trong khi vẫn mơ về một thứ thơ đáng để thờ tự… Phản ứng của cộng đồng, nhất là cộng đồng tinh hoa có khả năng nhận ra giá trị của thơ là chán nản, thậm chí hoang mang, không ít người tỏ ra bất lực trước tình trạng lạm phát thơ như hiện nay.

Câu hỏi về sự có ích hay vô ích của thơ vừa có thể được đặt ra một cách khắt khe, nhưng lại cũng có thể được nêu lên một cách độ lượng. Bởi lẽ, suy tới cùng, tính tương đối của một mối tương quan nào đó tạo nên tình thế lưỡng lự, cân nhắc cho các nhận định, rất hữu ích trước sự không trùng khít giữa các cá nhân và giữa các cá nhân – cộng đồng – thời đại, giữa các hệ giá trị… Dẫu như thế, thi ca vẫn cần có những điểm gặp gỡ để đối thoại về nền móng của một thực tại mĩ học – văn hóa – xã hội nếu không muốn tự biến mình thành một thế giới biệt lập hoặc một sản phẩm có rất ít giá trị đối với con người. Điểm gặp gỡ thuộc về căn nguyên, nền tảng ấy là chú trọng đến tư tưởng nghệ thuật, văn hóa thơ, tính phổ quát và hướng đến các giá trị tinh hoa. Và hẳn nhiên, nền tảng này đặt ra đòi hỏi đối với không chỉ người sáng tác mà cả với người đọc cùng các thiết chế có liên quan.

________

* Trích tham luận Hội thảo về Thơ nhân Ngày Thơ Việt Nam lần thứ 21.

Nguyễn Thanh Tâm
Nguồn Văn nghệ số 6/2023

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

THƯ VIỆN ẢNH ĐẸP
906029e10ba3d7fd8eb2.jpg 32b8e242c0001c5e4511-1.jpg f774eba794e548bb11f4.jpg 7a0a8baca9ee75b02cff.jpg dcd1d242f0002c5e7511.jpg 23289506b7446b1a3255.jpg 66d134e644a498fac1b5-1.jpg 8a334df96fbbb3e5eaaa.jpg ec1643b261f0bdaee4e1.jpg 75528951ab13774d2e02.jpg 740f0438267afa24a36b.jpg 9e931db13ff3e3adbae2.jpg eef9d3a2f1e02dbe74f1.jpg ac94b8a49de641b818f7.jpg ae0f6bdb499995c7cc88.jpg 895e11f733b5efebb6a4.jpg 27c48a2ea86c74322d7d-1.jpg f7b945c06782bbdce293.jpg 0f6e3f741c36c0689927.jpg c23927250467d8398176.jpg ea6a58024d7f8c21d56e-1-1.jpg 4f0be64af33732696b26-1.jpg b673068913f4d2aa8be5-1.jpg 1d4bb15da420657e3c31-1.jpg 35021b9c0ee1cfbf96f0-1.jpg ffc69024855944071d48-1.jpg 87e8e87cfd013c5f6510-1.jpg f7a58a679f1a5e44070b-1.jpg 5b9e981a8d674c391576-1.jpg dfefc79bd2e613b84af7-1.jpg 02ac9b4b8e364f681627-1.jpg 142989b99cc45d9a04d5-1.jpg fe3d1d75bf087e562719.jpg 94d3461b53669238cb77-1.jpg f38c46ee539392cdcb82-1.jpg 7f5885f9908451da0895-1.jpg e5c4472a52579309ca46-1.jpg 3b20a26fb712764c2f03-1.jpg 0506885d9d205c7e0531-1.jpg 1389b67fa302625c3b13-1.jpg f69297bc83c1429f1bd0-1.jpg 33f61d080875c92b9064-1.jpg e71f3a932feeeeb0b7ff-1.jpg 3b4258344c498d17d458-2-1.jpg aecc18440d39cc679528-1.jpg 01b53b002e7def23b66c-1.jpg 7536f22be75626087f47-1.jpg f87058784d058c5bd514-1.jpg 48dd535d4620877ede31-1.jpg 2799f500528d99d3c09c-1.jpg 0905f0a2572f9c71c53e.jpg 0b4698843f09f457ad18.jpg d5502603818e4ad0139f.jpg c364cdd36a5ea100f84f.jpg 4126eb8e4c03875dde12.jpg 35b9c64f61c2aa9cf3d3.jpg eb2c4421e0ac2bf272bd.jpg cd43fd4859c5929bcbd4-1.jpg a7896047c7ca0c9455db.jpg 370c09e6ae6b65353c7a.jpg 3b96701bd7961cc84587.jpg f369334897c55c9b05d4.jpg d203ce4d69c0a29efbd1.jpg b91ad73673bbb8e5e1aa-1.jpg 520c873d23b0e8eeb1a1.jpg 8f815695f21839466009.jpg d9977394d7191c474508.jpg b94a739fd4121f4c4603.jpg IMG-8015-1.jpg IMG-8020-1.jpg IMG-8014-1.jpg IMG-8021-1.jpg IMG-8007-1.jpg IMG-8017-1.jpg IMG-8018-2.jpg IMG-8016-1.jpg IMG-8013-1.jpg IMG-5512.jpg IMG-5489-1.jpg IMG-5516.jpg IMG-5498.jpg IMG-5504.jpg IMG-5510.jpg IMG-5515.jpg IMG-5497.jpg IMG-5529.jpg IMG-5503.jpg IMG-5509.jpg IMG-5514.jpg IMG-5494.jpg IMG-5518.jpg IMG-5501.jpg IMG-5507.jpg IMG-5513.jpg IMG-5493.jpg IMG-5517.jpg IMG-5500.jpg IMG-5505.jpg TS9-3861-2.jpg TS9-3794-2.jpg
  • Đang truy cập15
  • Hôm nay177
  • Tháng hiện tại15,638
  • Tổng lượt truy cập2,985,548
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây